Chính phủ và Tổng công ty Điện lực Hàn Quốc sẽ áp dụng dần phương án cải tổ giá điện theo mùa và theo khung giờ từ ngày 16 tháng 4. Điểm chính là giảm giá điện vào ban ngày và tăng giá vào buổi tối. Lần cải tổ này được giải thích là biện pháp để mở rộng năng lượng tái tạo và ứng phó khủng hoảng năng lượng. Vì vào ban ngày có nhiều điện mặt trời nên điện tương đối dồi dào, còn sau khi mặt trời lặn vào buổi tối thì nhu cầu điện tăng mạnh. Việc áp dụng sẽ bắt đầu trước với điện công nghiệp loại ất. Chính phủ cho biết có thể xem lĩnh vực này chiếm khoảng 53.2% tổng sản lượng bán điện. Hệ thống này dự kiến sẽ được mở rộng từng bước đến ngày 1 tháng 6. Với biện pháp lần này, các doanh nghiệp dùng nhiều điện sẽ phải điều chỉnh thời gian sử dụng cẩn thận hơn. Điểm chính của bài viết là giá điện ở Hàn Quốc bây giờ bắt đầu thay đổi khác nhau rõ hơn theo từng khung giờ.
원문 보기Cùng là điện, vì sao giá lại khác theo thời gian
Nhìn bên ngoài thì thấy hơi lạ đúng không. Điện đều đi từ cùng một ổ cắm, vậy tại sao lại thu ban ngày rẻ hơn và buổi tối đắt hơn. Nhưng nếu nhìn vào bên trong lưới điện, điện không phải là hàng hóa có thể chất đầy trong kho như đồ vật đâu. Gần như phải cân bằng sản xuất và tiêu dùng ngay tại từng thời điểm.
Điều quan trọng ở đây là đường cong con vịt (duck curve, hiện tượng điện mặt trời tạo ra nhiều điện vào ban ngày nên phụ tải ròng giảm mạnh, rồi đến lúc mặt trời lặn lại tăng vọt rất nhanh). Càng có nhiều điện mặt trời thì vào giữa trưa phần việc mà các nhà máy điện khác phải gánh sẽ giảm đi. Ngược lại, đến buổi tối thì công suất điện mặt trời giảm nhanh, trong khi người dân và nhà máy cùng dùng nhiều điện nên hệ thống điện đột nhiên trở nên rất căng.
Vì vậy điện buổi tối đắt không chỉ đơn giản là do chi phí nhiên liệu tăng. Cần phải huy động gấp nguồn điện có thể tăng công suất nhanh trong thời gian ngắn, tức là các nguồn linh hoạt như điện khí hoặc pin. Với người vận hành lưới điện, còn phải cùng lúc lo cả tần số (trạng thái cân bằng của hệ thống điện), dự phòng điện (lượng điện dư cho tình huống khẩn cấp), và ramping (khả năng tăng giảm nhanh sản lượng điện), nên buổi tối trở thành thời gian đắt hơn.
Ban ngày nhờ điện mặt trời nên điện tương đối dư hơn,
buổi tối thì điện mặt trời giảm trong khi nhu cầu dồn lại nên điện trở nên quý hơn.
Ban ngày thì còn dư, lúc trời sắp tối thì gấp hơn — cảm giác của đường cong con vịt
Biểu đồ này không phải giá thị trường thực tế, mà là hình minh họa khái niệm cho thấy phụ tải ròng thay đổi thế nào trong một ngày.
Ban ngày và buổi tối, trạng thái của lưới điện khác nhau như thế này
| Hạng mục | Ban ngày | Buổi tối |
|---|---|---|
| Tình hình cung cấp | Điện mặt trời vào nhiều nên điện tương đối dư dả | Điện mặt trời giảm mạnh nên phần dư cung giảm nhanh |
| Tín hiệu giá | Có thể thấp hoặc rất thấp | Dễ tăng cao |
| Bài toán của lưới điện | Các vấn đề như hạn chế phát điện, quản lý điện áp trở nên lớn hơn | Việc tăng công suất nhanh, dự phòng và quản lý tần số trở nên quan trọng hơn |
| Nguồn lực ứng phó chính | Sạc pin, đẩy sớm quy trình, chuyển dịch phụ tải | Phát điện khí, xả pin, kiềm chế nhu cầu |
Giá điện Hàn Quốc đã đi đến đây như thế nào
Lần cải tổ này không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống đâu. Biểu giá điện của Hàn Quốc từ lâu đã ưu tiên những mục tiêu khác, và bây giờ hướng đó đang dần thay đổi.
Giai đoạn 1: Năm 1974, biểu giá lũy tiến trở thành chuẩn
Giá điện sinh hoạt được thiết kế chủ yếu theo biểu giá lũy tiến, dùng càng nhiều thì đơn giá càng tăng mạnh. Khi đó, trọng tâm là kiềm chế tiêu dùng và công bằng hơn là tín hiệu giá theo khung giờ.
Giai đoạn 2: Những năm 2000, bàn về thị trường nhiều hơn nhưng điện gia dụng vẫn giữ nguyên
Đã có thảo luận về cải tổ cơ cấu ngành điện, nhưng giá điện gia dụng vẫn mang tính giá chính sách rất mạnh. Vì đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và dư luận nên hệ thống đơn giản đã được giữ khá lâu.
Giai đoạn 3: Năm 2009, điện công nghiệp đã có phân chia theo khung giờ
Thật ra, biểu giá theo khung giờ không hoàn toàn là mới ở Hàn Quốc. Một số khách hàng điện cao áp dùng cho mục đích thông thường và công nghiệp đã áp dụng phân loại giờ thấp điểm, giờ trung bình và giờ cao điểm rồi.
Giai đoạn 4: Năm 2016, tranh cãi về biểu giá lũy tiến làm lung lay hướng đi
Khi tranh cãi về tiền điện trong thời gian nắng nóng gay gắt tăng lên, nhiều người nói rằng chỉ với biểu giá lũy tiến cũ thì đã có giới hạn. Từ lúc này, biểu giá chênh lệch theo mùa và theo khung giờ được nhắc đến thường xuyên hơn như một phương án trung và dài hạn.
Giai đoạn 5: Từ năm 2021, bắt đầu đưa thêm tín hiệu chi phí thực tế
Khi có phí điều chỉnh giá nhiên liệu và thông báo tách riêng chi phí khí hậu và môi trường, hướng phản ánh cấu trúc chi phí thực tế vào giá điện nhiều hơn đã bắt đầu.
Giai đoạn 6: Từ năm 2025, AMI trải nền
Phải có AMI(hạ tầng đo đếm thông minh, công tơ thông minh) thì mới có thể đo chính xác lượng điện dùng theo từng khung giờ và tính giá khác nhau. Khi nền tảng kỹ thuật đã sẵn sàng, giờ thì hệ thống này mới bắt đầu trở thành hiện thực.
Biểu giá trước đây và hướng mới khác nhau ở đâu?
| Mục so sánh | Trọng tâm cũ | Hướng mới |
|---|---|---|
| Triết lý cơ bản | Quản lý tổng lượng tiêu thụ bằng biểu giá theo loại và lũy tiến | Điều chỉnh thời điểm sử dụng bằng tín hiệu giá theo khung giờ |
| Câu hỏi quan trọng | Một tháng đã dùng bao nhiêu? | Dùng nhiều vào lúc nào? |
| Mục tiêu chính sách | Ổn định giá cả, công bằng, khuyến khích tiết kiệm | Giảm đỉnh tải, tiếp nhận năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu quả hệ thống điện |
| Công nghệ cần thiết | Hệ thống ghi chỉ số tương đối đơn giản | AMI, phân tích dữ liệu, thiết bị điều khiển tự động |
| Thay đổi hành vi người dùng | Giảm tổng lượng sử dụng | Chuyển thời gian sử dụng |
Vì sao lại làm từ điện công nghiệp trước? Vì đó là nơi dùng điện nhiều nhất
Vì sao dễ điều chỉnh điện công nghiệp trước, so với điện gia đình thì sẽ thấy rõ
| Mục so sánh | Điện công nghiệp | Điện gia đình |
|---|---|---|
| Tỷ trọng sản lượng bán ra | Lớn nhất, khoảng 53.2% tính đến năm 2023 | Mức khoảng 15.1% |
| Độ khó khi điều chỉnh chế độ | Loại hợp đồng được chia nhỏ nên điều chỉnh tương đối dễ | Phức tạp vì liên quan đến lũy tiến, phúc lợi và vấn đề giá cả |
| Gánh nặng chính trị | Tương đối thấp | Lớn vì liên quan trực tiếp đến lòng dân và giá cả |
| Hiệu quả chính sách | Là nơi có nhu cầu lớn nên hiệu quả tín hiệu giá cao | Phạm vi rộng nhưng có thể triển khai chậm |
| Đối tượng tiêu biểu | Nhà máy, thiết bị sản xuất, cơ sở kinh doanh lớn | Hộ gia đình, căn hộ chung cư, người dùng nhà ở quy mô nhỏ |
Ai cười và ai thấy gánh nặng
| Đối tượng | Ảnh hưởng trực tiếp | Trường hợp có lợi | Trường hợp gánh nặng lớn |
|---|---|---|---|
| Nhà máy lớn | Rất lớn | Khi có thể điều chỉnh quy trình sang ban ngày hoặc gắn ESS | Khi là quy trình liên tục không thể dừng sản xuất vào buổi tối |
| Cửa hàng và tòa nhà lớn | Trung bình | Khi có thể điều chỉnh trước việc làm mát và vận hành thiết bị | Khi làm mát và chiếu sáng tập trung vào giờ tan làm |
| Người tự kinh doanh | Ảnh hưởng trực tiếp ban đầu có giới hạn | Khi có thể làm lạnh trước khi kinh doanh, thay thiết bị hiệu suất cao | Khi phải tiếp tục dùng tủ lạnh và điều hòa không khí như cửa hàng tiện lợi · quán cà phê |
| Gia đình | Hiện tại còn nhỏ | Về lâu dài khi tận dụng tốt biểu giá tự chọn | Nếu sau này mở rộng, khi dùng nhiều vào buổi tối thì có thể tăng gánh nặng |
Vì sao chỉ đổi một bảng giá điện lại giúp ích cho chuyển đổi năng lượng
Nhưng chỉ có biểu giá thì vẫn chưa đủ
| Yếu tố | Vì sao cần | Vấn đề phát sinh nếu không có |
|---|---|---|
| Công tơ thông minh AMI | Phải đo chính xác lượng điện dùng theo từng khung giờ thì mới áp dụng được biểu giá | Nếu không biết đã dùng lúc nào thì tín hiệu giá sẽ bị mờ |
| Pin ESS | Có thể lưu điện rẻ ban ngày để dùng vào buổi tối | Khó kết nối phần điện dư ban ngày với giờ cao điểm buổi tối |
| Đầu tư hệ thống điện | Thiết bị truyền tải·phân phối phải chịu được thì năng lượng tái tạo và chuyển dịch phụ tải mới vận hành thật sự | Điểm nghẽn theo từng khu vực và hạn chế phát điện có thể tăng lên |
| Bổ sung tính công bằng | Cần bảo vệ người tiêu dùng khó chuyển thời gian sử dụng | Gánh nặng của người thu nhập thấp·doanh nghiệp siêu nhỏ có thể tăng lên |
Vậy thay đổi này có ý nghĩa gì với cuộc sống của chúng ta và kinh tế Hàn Quốc
Lần cải tổ này không chỉ là đổi vài con số trong bảng giá đâu. Nó gần hơn với tín hiệu cho thấy hệ thống điện của Hàn Quốc đang chuyển từ thời chỉ nhìn 'đã dùng bao nhiêu điện' sang thời còn tính cả 'đã dùng khi nào'. Càng có nhiều năng lượng tái tạo thì thay đổi kiểu này thật ra càng khó tránh được.
Với doanh nghiệp, tiền điện giờ có khả năng không còn là chi phí cố định của chi phí sản xuất nữa, mà trở thành một phần của chiến lược quản lý. Doanh nghiệp nào điều chỉnh thời gian vận hành, gắn pin, đưa điều khiển tự động vào thì có thể sẽ có lợi. Ngược lại, những ngành khó giảm dùng điện vào giờ cao điểm buổi tối có thể sẽ bất lợi hơn dù dùng cùng một lượng điện.
Với những người sống bình thường như chúng ta, thay đổi ngay lúc này có thể chưa lớn. Nhưng về lâu dài, thời gian sạc xe điện, thói quen dùng máy lạnh, rồi cả cách quản lý năng lượng của khu chung cư cũng có thể thay đổi từng chút một. Vì vậy, tin này là bài về 'cải tổ giá điện công nghiệp', nhưng thật ra nó gần như là đoạn báo trước rằng toàn xã hội Hàn Quốc đã bắt đầu chuyển theo hướng dùng điện thông minh hơn.
Liệu biểu giá theo khung giờ có mở rộng đến cả điện sinh hoạt không,
Điểm tin tiếp theo là các doanh nghiệp sẽ kết nối ESS, điều khiển tự động và sạc xe điện như thế nào.
Mình sẽ chỉ bạn cách sống ở Hàn Quốc
Hãy yêu mến gltr life thật nhiều nhé




