Bộ Tư pháp quyết định điều chỉnh chế độ visa du lịch y tế cho người nước ngoài để phát triển ngành du lịch wellness. Lý do là gần đây việc phát triển các sản phẩm wellness và du lịch y tế ở Busan và khu vực Gangwon đang rất sôi động, nên nhu cầu làm cho việc nhập cảnh và lưu trú của bệnh nhân nước ngoài dễ hơn đã tăng lên. Chính phủ cho rằng quy định về visa và lưu trú đang trở thành vật cản ở thực tế. Vì vậy, họ có kế hoạch chỉnh lại điều kiện xét duyệt và thủ tục để người cần điều trị lặp lại hoặc người đến với mục đích du lịch wellness có thể dễ nhận visa ngắn hạn nhiều lần và visa lưu trú dài hạn hơn. Những bất tiện mà các cơ quan thu hút du lịch y tế đã yêu cầu cũng sẽ được phản ánh vào chế độ. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cho biết sẽ nới lỏng tiêu chuẩn chỉ định các cơ quan thu hút du lịch y tế xuất sắc, và cũng sẽ sửa hợp lý tiêu chuẩn xử phạt hành chính đang gây gánh nặng cho việc thu hút bệnh nhân nước ngoài. Trước đó, vào tháng 9 năm 2025, chính phủ đã tăng số cơ quan thu hút du lịch y tế xuất sắc từ 39 lên 90.
원문 보기Đến để điều trị, vậy sao lại nói cùng cả visa du lịch?
Nếu chỉ nhìn bài báo đầu tiên thì thấy hơi lạ đúng không. Đây là chuyện người ta đến bệnh viện để điều trị, vậy mà sao tự nhiên lại đi kèm câu chuyện du lịch wellness nhỉ. Nhưng bức tranh mà chính phủ Hàn Quốc nhìn không chỉ kết thúc ở một lần khám chữa bệnh. Họ muốn gộp cả quá trình như khám kiểm tra, tham gia chương trình hồi phục, trải nghiệm spa hay Y học cổ truyền Hàn Quốc (hanbang), rồi ở lại địa phương thêm vài ngày, và phát triển thành một ngành công nghiệp.
Ở đây, du lịch wellness không chỉ là chuyến đi nghỉ ở khách sạn đẹp đâu. Nó là chuyến đi với mục đích phục hồi hoặc duy trì sức khỏe của cơ thể và tinh thần. Vì vậy, nếu du lịch y tế gần với việc 'điều trị' hơn, thì du lịch wellness là khái niệm rộng hơn, gồm cả phòng ngừa, phục hồi và nghỉ ngơi. Đây cũng là lý do chính phủ đang điều chỉnh thị thực. Lịch điều trị khó nói chính xác rõ ràng như lịch du lịch, và quá trình hồi phục cũng khác nhau tùy từng người.
Cuối cùng, tin tức lần này là câu chuyện lớn hơn mức chỉ sửa một chế độ xuất nhập cảnh. Nó gần như là tín hiệu cho thấy Hàn Quốc không chỉ bán dịch vụ bệnh viện cho người nước ngoài, mà muốn biến toàn bộ trải nghiệm lưu trú trước và sau điều trị thành một sản phẩm. Vậy thì tự nhiên sẽ có câu hỏi tiếp theo. Du lịch y tế và du lịch wellness chính xác giống nhau đến mức nào, và bắt đầu khác nhau từ đâu?
Nới lỏng visa không chỉ là để tiện hơn, mà là một phần của chiến lược ngành lưu trú kết hợp điều trị, phục hồi và du lịch.
Đặc biệt, họ đang nhắm đến hiệu ứng lan tỏa ở những nơi có tài nguyên du lịch địa phương như Busan và Gangwon.
Du lịch y tế và du lịch wellness, nhìn giống nhưng mục đích khác nhau
| Hạng mục | Du lịch y tế | Du lịch wellness |
|---|---|---|
| Mục đích chính | Điều trị bệnh, phẫu thuật, thủ thuật, khám sức khỏe | Phòng ngừa, phục hồi, nghỉ ngơi, sức khỏe tinh thần, cải thiện thói quen sống |
| Dịch vụ tiêu biểu | Khám chữa bệnh ở bệnh viện, thẩm mỹ, da liễu, điều trị ung thư, khám sức khỏe | Thiền, chữa lành trong rừng, spa, trải nghiệm Y học cổ truyền Hàn Quốc (hanbang), món ăn lành mạnh, lưu trú phục hồi |
| Cách lưu trú | Tập trung vào lịch điều trị, việc đến bệnh viện là chính | Lịch lưu trú gồm cả ở lại, trải nghiệm và nghỉ dưỡng |
| Cấu trúc chi tiêu | Tỷ trọng chi phí y tế lớn | Tỷ trọng chi tiêu cho lưu trú, ăn uống, trải nghiệm và tiêu dùng địa phương lớn |
| Góc nhìn của chính phủ Hàn Quốc | Xuất khẩu dịch vụ y tế | Bản mở rộng kết hợp với y tế để tăng thời gian lưu trú và tiêu dùng địa phương |
Hiện nay chế độ đang vướng ở đâu? Khoảng trống mơ hồ giữa C-3 và Khác
| Hạng mục | C-3-3 du lịch y tế ngắn hạn | Khác-10 điều trị·điều dưỡng dài hạn |
|---|---|---|
| Đối tượng cơ bản | Người đến thăm để điều trị·khám sức khỏe·hồi phục trong 90 ngày trở xuống | Bệnh nhân và người đi cùng cần điều trị·điều dưỡng từ 91 ngày trở lên |
| Ưu điểm thực tế | Phù hợp với lịch ngắn | Phù hợp với điều trị dài hạn và phục hồi chức năng |
| Bất tiện thực tế | Nếu phát sinh khám chữa thêm hoặc thời gian hồi phục kéo dài thì sẽ lập tức trở nên gấp gáp | Nếu ngay từ đầu chưa chắc chắn là điều trị dài hạn thì rất khó chọn |
| Gánh nặng chuẩn bị | Mức độ phụ thuộc vào cơ sở y tế mời·cơ quan thu hút rất lớn | Gánh nặng chứng minh kế hoạch điều trị và sự cần thiết phải lưu trú dài hạn rất lớn |
| Nút thắt chính | Điều trị y tế không được chia gọn gàng thành trong/vượt quá 90 ngày, nhưng chế độ lại chia như vậy | Nếu kế hoạch điều trị thay đổi giữa chừng thì sẽ phát sinh gánh nặng đổi Tư cách lưu trú và gia hạn |
Bệnh nhân nước ngoài đã tăng mạnh rồi, còn chế độ thì đang theo sau khá muộn
Thị trường du lịch y tế Hàn Quốc đã vượt qua cú sốc corona và còn lớn hơn nữa. Di chuột lên các điểm để xem số liệu.
Hàn Quốc cạnh tranh với ai? Lá bài khác với Thái Lan·Singapore
| Quốc gia | Điểm mạnh chính | Điểm yếu tương đối | Điểm so sánh với Hàn Quốc |
|---|---|---|---|
| Hàn Quốc | Da liễu·thẩm mỹ, khám sức khỏe, y tế tiên tiến, khả năng tiếp cận đô thị lớn | Chỉ cạnh tranh bằng giá thì khó cạnh tranh siêu rẻ | Cần gộp K-beauty với y tế, và đi theo gói gồm visa·phiên dịch·chăm sóc sau điều trị |
| Thái Lan | Liên kết du lịch và sức cạnh tranh về giá, trải nghiệm lưu trú kiểu hồi phục | Hình ảnh về điều trị ca nặng độ khó cao có thể tương đối yếu | Hàn Quốc có xu hướng nhấn mạnh điều trị tiên tiến và khả năng tiếp cận nhanh hơn Thái Lan |
| Singapore | Độ tin cậy trong điều trị cao cấp·ca nặng, thương hiệu y tế quốc tế | Chi phí rất cao | Hàn Quốc có thể cạnh tranh ở dải giá rộng hơn và nhu cầu làm đẹp·khám sức khỏe |
| Ấn Độ | Giá thấp và một số chuyên khoa nhất định | Sức hấp dẫn của trải nghiệm du lịch·hồi phục khác nhau khá nhiều theo từng nước | Hàn Quốc tạo khác biệt bằng chất lượng dịch vụ và kết hợp trải nghiệm hơn là giá |
| Malaysia | Môi trường sử dụng tiếng Anh và trải nghiệm du lịch y tế tương đối ổn định | Hiệu quả kết hợp với nội dung K như Hàn Quốc tương đối yếu | Điểm khác của Hàn Quốc là có thể bán cùng lúc tiêu dùng văn hóa và y tế |
Chính sách này không phải tự nhiên xuất hiện: những thay đổi kéo dài từ năm 2008
Chính sách du lịch y tế Hàn Quốc bắt đầu từ 'cho phép', rồi qua 'quản lý', và giờ đang đi tới giai đoạn 'công nghiệp hóa kiểu lưu trú'.
Giai đoạn 1: 2008~2009, việc thu hút bệnh nhân nước ngoài bắt đầu được mở ra về mặt thể chế
Nhờ sửa đổi Luật Y tế năm 2008, việc thu hút bệnh nhân nước ngoài đã trở nên khả thi về mặt pháp lý, và đến năm 2009 thì chế độ đăng ký được áp dụng. Có thể xem đây là điểm khởi đầu chính thức của du lịch y tế Hàn Quốc.
Giai đoạn 2: 2009~2015, thị trường lớn dần nên chỉ 'cho phép' thôi là chưa đủ
Khi số bệnh nhân tăng nhanh, sự quan tâm của chính phủ cũng chuyển từ chỉ cho phép sang quản lý thống kê, đăng ký và hoàn thiện hệ thống hỗ trợ. Đây là thời kỳ xuất hiện niềm tin rằng có thể phát triển lĩnh vực này thành một ngành.
Giai đoạn 3: 2015~2016, được hệ thống hóa bằng luật riêng
Khi 'Luật về hỗ trợ mở rộng ra nước ngoài của ngành y tế và thu hút bệnh nhân nước ngoài' được ban hành và thực thi, du lịch y tế không còn là một phần nhỏ trong Luật Y tế mà đã trở thành một lĩnh vực chính sách độc lập.
Giai đoạn 4: khoảng năm 2019, vấn đề môi giới·phí hoa hồng·bảo vệ bệnh nhân trở nên lớn hơn
Khi thị trường càng lớn thì tác dụng phụ cũng xuất hiện. Vì vậy, các quy định xử lý những vấn đề như phí hoa hồng, quảng cáo, môi giới trái phép và an toàn bệnh nhân đã được siết chặt hơn, và câu hỏi 'đơn vị thu hút nào thật sự đáng tin' trở nên quan trọng.
Giai đoạn 5: sau COVID, trong thị trường phục hồi, visa và chăm sóc sức khỏe toàn diện bắt đầu gắn với nhau
Do corona, số bệnh nhân nước ngoài đã giảm mạnh rồi tăng bật lại nhanh vào 2023~2024. Trong giai đoạn phục hồi này, chính phủ bắt đầu thúc đẩy cùng lúc sự thuận tiện về visa, mở rộng các đơn vị thu hút ưu tú và kết hợp với du lịch wellness, và tin tức lần này cũng nằm đúng trong dòng chảy đó.
‘Cơ quan thu hút ưu tú’ không chỉ là nơi nhận ưu đãi, mà còn là nơi có trách nhiệm quản lý lớn hơn
| Hạng mục | Nội dung |
|---|---|
| Là ai | Đó là cơ sở y tế hoặc cơ quan, doanh nghiệp thu hút bệnh nhân nước ngoài do Bộ Tư pháp chỉ định. Nói đơn giản, đây là những nơi được công nhận có năng lực tiếp nhận bệnh nhân nước ngoài một cách an toàn. |
| Có những lợi ích gì | Bạn có thể nhận được các lợi ích như đơn giản hóa giấy tờ visa, xử lý nhanh visa điện tử, và mở rộng phạm vi mời người nhà đi cùng. |
| Vì sao có chế độ này | Vì muốn phát triển ngành này, nhưng cũng phải giảm môi giới bất hợp pháp, lạm dụng visa, và nguy cơ cư trú bất hợp pháp. |
| Đánh giá những gì | Không chỉ nhìn vào thành tích thu hút, mà còn xem cả các chỉ số tin cậy như mức phát sinh cư trú bất hợp pháp, tỷ lệ bị từ chối nhập cảnh, nộp thuế, và năng lực quản lý nữa. |
| Thay đổi gần đây | Chính phủ đã tăng số cơ quan thu hút ưu tú từ 39 lên 90, và giờ cũng đang muốn tiếp tục điều chỉnh kỹ hơn tiêu chuẩn chỉ định và tiêu chuẩn xử phạt hành chính. |
Vì vậy, ý nghĩa thật sự của tin này gần như là một lời tuyên bố rằng Hàn Quốc sẽ không chỉ bán mỗi ‘điều trị’ nữa
Chỉ nhìn vào con số thôi thì hướng đi đã rất rõ. Năm 2024, số bệnh nhân nước ngoài đến Hàn Quốc đã là 117vạn467명, lần đầu vượt mốc 100vạn, và tổng chi tiêu của bệnh nhân cùng người đi cùng được đưa tin là khoảng 7nghìn tỷ 5천trăm triệu 원. Vì vậy, từ góc nhìn của chính phủ, không có lý do gì để chỉ xem thị trường này như doanh thu của bệnh viện.
Điều quan trọng hơn là tính địa phương. Seoul vốn đã mạnh rồi, nhưng trong bài này Busan·Gangwon được nhắc cùng nhau không phải là ngẫu nhiên. Những yếu tố như biển, rừng, suối nước nóng, khu nghỉ dưỡng, Y học cổ truyền Hàn Quốc (hanbang), và lưu trú kiểu phục hồi có thể kết hợp tốt hơn ở địa phương ngoài vùng thủ đô. Nếu điều trị là 'ghé thăm', thì chăm sóc sức khỏe toàn diện gần với 'lưu trú' hơn, và thời gian ở càng dài thì tiền càng ở lại kinh tế địa phương.
Tất nhiên, không phải chỉ nới visa là xong. Phiên dịch, sức cạnh tranh về giá, chăm sóc sau điều trị, cơ quan thu hút đáng tin, và cả kiểm soát môi giới bất hợp pháp cũng phải đi cùng nhau. Một số bài báo nói rằng chi tiêu thẻ của khách du lịch y tế cao hơn khách du lịch ngoại trú thông thường, nhưng mức chênh lệch đó được đưa ra khác nhau tùy tài liệu. Vì vậy ở đây, thay vì so sánh phóng đại, hiểu đây là nhu cầu lưu trú có giá trị gia tăng cao sẽ chính xác hơn. Dù vậy, lần điều chỉnh này vẫn rất có ý nghĩa vì nó hạ thấp cửa ải đầu tiên. Nghĩa là Hàn Quốc giờ đang đi theo hướng vượt qua hình ảnh 'đất nước phẫu thuật giỏi' đối với người nước ngoài để trở thành 'đất nước khiến người ta muốn ở lại cả sau điều trị'.
Cải thiện visa = không chỉ là nới lỏng hành chính xuất nhập cảnh, mà còn là một phần của chiến lược xuất khẩu dịch vụ giá trị cao.
Nếu kết hợp du lịch y tế + du lịch chăm sóc sức khỏe toàn diện, thì chi tiêu ngoài bệnh viện, tức là lưu trú·ăn uống·trải nghiệm, cũng có thể cùng tăng lên.
Cuộc cạnh tranh thật sự sắp tới có khả năng sẽ nằm ở phiên dịch, quản lý chất lượng, và thiết kế gói dịch vụ địa phương hơn là visa.
Mình sẽ chỉ bạn cách sống ở Hàn Quốc
Hãy yêu mến gltr life thật nhiều nhé




