Viện Nghiên cứu Chính sách Di trú cho biết sẽ tổ chức Hội nghị báo cáo kết quả 2025 vào ngày 30 tháng 4 tại Ground V, thành phố Gwacheon, tỉnh Gyeonggi. Đây là dịp để viện giới thiệu các kết quả nghiên cứu chính đã thực hiện trong năm ngoái. Các ủy viên dân sự của Ủy ban Chính sách Người nước ngoài thuộc Bộ Tư pháp và các chuyên gia học thuật cũng sẽ tham gia thảo luận. Tại sự kiện, sẽ công bố các nội dung như phương án cải thiện hệ thống an sinh xã hội cho người nước ngoài, tác động xã hội và kinh tế của việc thu hút du học sinh nước ngoài, và chiến lược thiết kế di trú định cư phản ánh đặc điểm từng địa phương. Ngoài ra, cũng sẽ đề cập đến phân tích chuyên sâu về thực trạng hoạt động kinh tế và tác động kinh tế của người nước ngoài đang cư trú trong nước. Viện giải thích rằng thông qua hội nghị lần này, họ sẽ chia sẻ các kết quả nghiên cứu chính và mở rộng thảo luận về chính sách di trú.
원문 보기"Phương án cải thiện an sinh xã hội" mà bài báo nói, thật ra là đang nói điều gì sẽ thay đổi?
Nếu chỉ nhìn bài báo gốc thì có vẻ như chỉ là tin về buổi 발표 nghiên cứu thôi đúng không. Nhưng cách nói phương án cải thiện hệ thống an sinh xã hội cho người nước ngoài chứa một câu chuyện khá lớn. Tùy việc Hàn Quốc nhìn người nước ngoài là 'người đến làm việc một thời gian' hay là 'cư dân sẽ cùng sống lâu dài', cách thiết kế 건강보험, lương hưu quốc gia, bảo hiểm việc làm và bảo hiểm tai nạn lao động sẽ đều khác nhau.
If you look at Korea's system now, the most widely open one for foreign residents is 건강보험. If you stay for 6 months or more, in principle you become a mandatory enrollee, and workers' compensation insurance is also applied fairly widely because it is connected to work sites. On the other hand, the national pension has strong conditions like agreements with the person's home country and reciprocity, and employment insurance is the most complex because the way it applies changes depending on the status of residence.
Vì vậy, tranh luận gần đây không chỉ dừng ở mức 'người nước ngoài có được nhận quyền lợi bảo hiểm hay không'. Ai đóng bao nhiêu, ai dùng bao nhiêu, phạm vi bao gồm đến mức nào cho cả gia đình, và nếu nới lỏng hệ thống quá thì tranh cãi về công bằng sẽ tăng lên, còn nếu siết quá chặt thì việc định cư và hòa nhập sẽ khó hơn, những điều đó đang cùng lúc kéo co với nhau. Viện Nghiên cứu Chính sách Di trú đưa chủ đề này ra cũng gần như có nghĩa là đang hỏi lại cuối cùng Hàn Quốc sẽ xem người nước ngoài là thành viên như thế nào.
Trọng tâm của thảo luận về an sinh xã hội cho người nước ngoài gần hơn với câu hỏi sẽ xem ai là thành viên của xã hội Hàn Quốc hơn là 'có cho quyền lợi hay không'.
Mỗi loại bảo hiểm có cách áp dụng khác nhau, nên thiết kế hệ thống chính là tín hiệu cho thấy hướng đi của chính sách di trú.
건강보험·lương hưu·bảo hiểm việc làm·bảo hiểm tai nạn lao động, với người nước ngoài thì được áp dụng khác như thế này
| Hệ thống | Cách áp dụng cho người nước ngoài | Ngoại lệ và điều kiện chính | Vấn đề trọng tâm hiện nay |
|---|---|---|---|
| 건강보험 | Người nước ngoài cư trú trên 6 tháng về nguyên tắc phải tham gia bắt buộc | Có quy định giảm phí bảo hiểm cho các tư cách lưu trú liên quan đến du học sinh và người tị nạn | Siết chặt điều kiện công nhận Người phụ thuộc theo bảo hiểm y tế (pibuyangja), tranh cãi về công bằng, vấn đề tiếp cận ngôn ngữ và hành chính |
| lương hưu quốc gia | Phạm vi áp dụng rộng nhưng bị ảnh hưởng lớn bởi hiệp định với nước mang quốc tịch | Tùy theo nguyên tắc có đi có lại và hiệp định của từng nước mà điều kiện tham gia·trợ cấp hoàn trả một lần sẽ khác nhau | Dù cùng làm việc, quyền lợi và gánh nặng thực tế có thể khác nhau tùy quốc tịch |
| Bảo hiểm việc làm | Tùy theo Tư cách lưu trú mà được chia thành tham gia đương nhiên, tham gia tự nguyện hoặc không áp dụng | Không phải toàn bộ người nước ngoài đều tự động tham gia | Khả năng tiếp cận trợ cấp thất nghiệp, thiếu sót khi tham gia và việc chưa hiểu rõ hệ thống là vấn đề lớn |
| Bảo hiểm tai nạn lao động | Là chế độ được áp dụng phổ biến nhất trong 4 hệ thống | Về nguyên tắc, việc có tai nạn tại nơi làm việc quan trọng hơn quốc tịch | So với bản thân hệ thống, các vấn đề như che giấu ở hiện trường, né tránh khai báo và vùng mù bảo vệ còn lớn hơn |
Lý do dạo này tranh luận lớn hơn là vì quy định của 건강보험 đã liên tục được điều chỉnh
Lý do tranh luận về an sinh xã hội cho người nước ngoài đặc biệt tập trung vào 건강보험 là vì đây là chế độ có thể cảm nhận rõ nhất ngay trong cuộc sống hằng ngày.
2019: Sau 6 tháng thì bắt buộc tham gia theo khu vực cư trú
Từ lúc này, về nguyên tắc, người nước ngoài·kiều bào ở nước ngoài sau khi nhập cảnh 6 tháng thì trở thành Người tham gia bảo hiểm theo khu vực cư trú của 건강보험. Nói đơn giản là không còn là 'bảo hiểm tham gia nếu muốn', mà là nếu sống lâu thì tự động vào trong hệ thống.
Sau đó: Một số Tư cách lưu trú đi kèm cơ chế giảm gánh nặng
Dù áp dụng chế độ rộng hơn, nếu gánh nặng phí bảo hiểm quá lớn thì có thể cản trở việc ổn định cuộc sống đúng không. Vì vậy, với một số Tư cách lưu trú như du học sinh, tư cách lưu trú liên quan đến người tị nạn, visa tôn giáo, đã có quy định giảm phí bảo hiểm được vận hành cùng nhau.
2024: Siết chặt điều kiện Người phụ thuộc theo bảo hiểm y tế (pibuyangja)
Điều kiện công nhận gia đình là Người phụ thuộc theo bảo hiểm y tế (pibuyangja) (người không trực tiếp đóng phí bảo hiểm mà tham gia cùng bảo hiểm của gia đình) đã trở nên nghiêm ngặt hơn. Có thể xem đây là điều chỉnh để đáp lại lo ngại thường xuất hiện trong xã hội Hàn Quốc rằng 'vào trong thời gian ngắn rồi chỉ nhận điều trị chi phí lớn xong rời đi'.
Hiện nay: Tăng cường kiểm soát và mở rộng tích hợp diễn ra đồng thời
Một bên vì lý do công bằng nên làm điều kiện nghiêm ngặt hơn, còn một bên thì muốn giảm các điểm mù như bỏ sót người tham gia và thiếu thông tin. Nghĩa là hướng đi không chỉ theo một phía, mà đang chuyển theo hướng bao gồm nhiều hơn nhưng quản lý chặt chẽ hơn.
Người nước ngoài ở Hàn Quốc làm việc ở đâu nhiều nhất
Điều quan trọng hơn con số là có những ngành sẽ chao đảo ngay nếu thiếu người nước ngoài
| Ngành nghề | Việc làm tiêu biểu | Vì sao thiếu lao động trong nước | Nếu lao động nước ngoài giảm thì sẽ xảy ra gì |
|---|---|---|---|
| Ngành chế tạo | Công nhân sản xuất nhà máy vừa và nhỏ, lắp ráp, gia công | Công việc vất vả, lặp đi lặp lại và tập trung nhiều ở khu công nghiệp địa phương nên khó tuyển dụng | Thu hẹp dây chuyền, chậm tiến độ giao hàng, gián đoạn sản xuất ở doanh nghiệp vừa và nhỏ |
| Nông nghiệp chăn nuôi·ngư nghiệp | Lao động theo mùa, quản lý chuồng trại, nuôi trồng·làm thuyền viên | Già hóa nghiêm trọng và nhu cầu lao động tập trung theo mùa nên khó thay thế | Ảnh hưởng thu hoạch, tăng lượng phải bỏ đi, nguồn cung thực phẩm địa phương bất ổn |
| Ngành xây dựng | Hỗ trợ tại công trường, hỗ trợ cốt thép·ván khuôn, công đoạn nền móng | Cường độ lao động tại công trường cao và lực lượng lao động có tay nghề đang già hóa | Chậm tiến độ công trình, tăng chi phí vận hành công trường, gây áp lực cho doanh nghiệp nhỏ |
| Ăn uống·lưu trú·dịch vụ | Phụ bếp, vận hành khu phục vụ, khách sạn·dọn dẹp | Thời gian làm việc dài và chuyển việc nhiều nên tình trạng thiếu tuyển dụng thường xuyên rất nghiêm trọng | Thu hẹp giờ kinh doanh, giảm chất lượng dịch vụ, ảnh hưởng khu thương mại địa phương |
Vì sao giờ đây Hàn Quốc không nói về 'người làm việc một thời gian rồi đi' mà nói về 'người sẽ định cư'
Di dân định cư có nghĩa là bắt đầu nhìn người nước ngoài không chỉ là lao động, mà còn là cư dân của địa phương, học sinh và dân số theo đơn vị gia đình.
Năm 1993: Bắt đầu chế độ tu nghiệp công nghiệp
Hàn Quốc đã bắt đầu tiếp nhận lao động nước ngoài một cách chính thức, nhưng cách nghĩ cơ bản khi đó gần với kiểu 'làm việc một thời gian rồi quay về'. Mục đích đưa người vào không phải để định cư mà là bổ sung nhân lực.
Năm 2004: Áp dụng Employment Permit System (EPS)
Việc tuyển dụng người nước ngoài được đưa vào khuôn khổ hơn, nhưng vẫn mang tính luân chuyển rất rõ. Nói đơn giản là mô hình quản lý chủ yếu là dùng đúng mức cần thiết rồi lại cho về.
Thập niên 2010: Người nước ngoài kiểu định cư ở Hàn Quốc đã bắt đầu tăng
Khi người nhập cư kết hôn, du học sinh và người nước ngoài cư trú dài hạn tăng lên, các vấn đề không thể giải thích chỉ bằng quản lý xuất nhập cảnh cũng lớn dần. Các vấn đề về trường học, nhà ở, y tế, phúc lợi và thích nghi với cộng đồng địa phương bắt đầu đi kèm.
Thập niên 2020: Tỷ lệ sinh thấp và sự biến mất của địa phương đẩy mạnh thảo luận
Bây giờ không chỉ thiếu lao động ở nhà máy mà còn thiếu chính những người sẽ tiếp tục sống ở địa phương. Vì vậy, thay vì chính sách dùng người nước ngoài trong thời gian ngắn, di trú định cư gắn với đi cùng gia đình, cư trú dài hạn và hòa nhập xã hội đã thật sự xuất hiện như một thuật ngữ chính sách.
Di cư lao động kiểu luân chuyển và di trú định cư khác nhau ở điểm nào
| Hạng mục so sánh | Di cư lao động kiểu luân chuyển | Di trú định cư |
|---|---|---|
| Mục đích chính | Bù đắp thiếu hụt lao động trong một thời gian nhất định | Bổ sung cả lao động lẫn dân số và giúp họ định cư tại địa phương |
| Hình dung về cư trú | Người làm việc rồi quay về | Người có thể sống lâu dài và cũng có thể lập gia đình |
| Đi cùng gia đình | Thường bị hạn chế | Yếu tố quan trọng trong thiết kế chính sách |
| An sinh xã hội | Chủ yếu là bảo vệ ở mức tối thiểu | Kết nối đến 건강보험, giáo dục, chăm sóc, cả chăm sóc dài hạn |
| Quan hệ với cộng đồng địa phương | Tập trung vào nơi lao động | Bao gồm cả trường học, nhà ở, khu thương mại và cộng đồng |
| Khó khăn của chính sách | Quản lý là trung tâm hơn là bảo đảm quyền lợi | Mức độ chấp nhận của xã hội và năng lực hòa nhập quyết định thành bại |
Vì sao Viện Nghiên cứu Chính sách Di trú cứ liên tục đưa ra những chủ đề như thế này
Nhìn tên thì Viện Nghiên cứu Chính sách Di trú có vẻ như là một cơ quan học thuật, nhưng thực tế nó gần với một cơ quan nghiên cứu gắn sát với giai đoạn đầu của thiết kế chính sách. Cơ quan này được thành lập vào năm 2009 dựa trên thỏa thuận giữa chính phủ và Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), và đã hoạt động như một đối tác nghiên cứu chính sách có liên kết chặt chẽ với Bộ Tư pháp. Nói đơn giản, đây không phải là cơ quan trực tiếp làm ra luật, nhưng lại giữ vai trò phác thảo hướng đi về việc chính phủ xem vấn đề nào là quan trọng và sẽ điều chỉnh hệ thống theo hướng nào.
Sức mạnh của cơ quan này không đến từ quyền có thể thay đổi chế độ ngay lập tức, mà đến từ khả năng đưa chủ đề lên trước. Các chủ đề như an sinh xã hội cho người nước ngoài, nhập cư kiểu định cư, chính sách nhập cư địa phương, thiết kế Cục Di trú thường không tự nhiên xuất hiện đột ngột trong dự luật. Trước tiên, chúng được tích lũy dần qua báo cáo nghiên cứu, diễn đàn, khảo sát thực tế, thảo luận về kế hoạch cơ bản, rồi sau đó mới nối tiếp sang kế hoạch của chính phủ và thảo luận về cải tổ hành chính.
Vì vậy, đúng hơn là nên xem buổi báo cáo kết quả lần này như một tín hiệu cho thấy sau này Hàn Quốc sẽ chọn câu hỏi nào làm chủ đề chính sách, chứ không chỉ là một sự kiện học thuật đơn giản. Đặc biệt, việc phương án cải thiện hệ thống an sinh xã hội đã được đưa vào chủ đề chính thức của viện nghiên cứu cũng có nghĩa là họ bắt đầu nhìn vấn đề người nước ngoài không chỉ là quản lý xuất nhập cảnh, mà là vấn đề kết nối giữa y tế, lao động và ổn định cuộc sống.
Viện Nghiên cứu Chính sách Di trú không phải là cơ quan trực tiếp thực thi, nhưng có sức mạnh lớn trong việc đặt tên vấn đề là gì và biến nó thành ngôn ngữ chính sách.
Nói cách khác, đây là cơ quan mạnh hơn ở việc 'làm cho quyết định đi theo hướng nào' hơn là 'quyết định ngay lập tức'.
Vì vậy, vì sao cuộc thảo luận này quan trọng với người nước ngoài sống ở Hàn Quốc và với xã hội Hàn Quốc
Nếu sống lâu ở Hàn Quốc, sẽ có những lúc như vậy. Mình đóng thuế, đóng phí bảo hiểm và đi làm, nhưng có lúc lại cảm thấy bị đối xử như 'khách', rồi có lúc lại nhận được thông điệp là 'hãy định cư'. Điều khiến thảo luận về an sinh xã hội cho người nước ngoài bây giờ quan trọng chính là vì đây là nỗ lực sắp xếp mâu thuẫn đó ở cấp độ thể chế.
Từ góc nhìn của xã hội Hàn Quốc, đây cũng không còn là vấn đề nhỏ ở bên lề nữa. Từ nhà máy sản xuất, nông thôn, công trường xây dựng, đại học địa phương đến khu kinh doanh địa phương, đã có nhiều phần rất khó vận hành nếu không có người nước ngoài. Nhưng nếu muốn họ định cư, thì phải bảo đảm ở mức nào đó khả năng tiếp cận bảo hiểm và phúc lợi, và ngược lại, nếu muốn nhận được niềm tin của người dân thì cũng phải quản lý tranh cãi về công bằng. Cuối cùng, an sinh xã hội không chỉ là vấn đề chi phí mà có thể được xem là công cụ quyết định Hàn Quốc sẽ trở thành một quốc gia nhập cư như thế nào.
Từ nay, có lẽ câu hỏi thật sự quan trọng là thế này. Có xem người nước ngoài là lao động chỉ dùng khi cần, hay xem họ là cư dân cùng chia sẻ quy tắc và trách nhiệm. Buổi báo cáo kết quả lần này có thể được hiểu như một dấu hiệu cho thấy câu trả lời của Hàn Quốc với câu hỏi đó đang dần thay đổi.
Nếu chỉ nhấn mạnh tính công bằng, vùng mù có thể lớn hơn; còn nếu chỉ nhấn mạnh hội nhập, phản ứng xã hội có thể mạnh hơn.
Điểm quan trọng từ nay là tạo ra thiết kế thu công bằng hơn và bảo vệ rõ ràng hơn.
Tôi sẽ hướng dẫn bạn cách sống ở Hàn Quốc
Hãy yêu mến gltr life thật nhiều nhé




