Chính phủ và cơ quan du lịch gần đây đã phân tích hai buổi diễn trong nước của BTS. Họ cùng xem khảo sát tại hiện trường, dữ liệu viễn thông và dữ liệu thẻ. Kết quả cho thấy khán giả nước ngoài ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn so với khách du lịch nước ngoài thông thường. Khách nước ngoài đến buổi diễn ở Gwanghwamun, Seoul ngày 21 tháng 3 lưu trú trung bình 8.7 ngày. Chi tiêu trung bình khoảng 353vạn KRW. Con số này dài hơn 2.6 ngày và nhiều hơn 108vạn KRW so với mức trung bình của khách du lịch nước ngoài thông thường trong quý 1 năm nay. Hiệu ứng quanh địa điểm biểu diễn cũng rất lớn. Gần địa điểm biểu diễn ở Goyang, số khách nước ngoài tăng 35 lần so với bình thường. Chi tiêu bằng thẻ tăng 38 lần. Chính phủ giải thích rằng các ví dụ như vậy cho thấy buổi diễn K-pop có thể cùng lúc làm tăng du lịch và tiêu dùng địa phương.
원문 보기
35 lần khách đến, 38 lần chi tiêu… Điều thật sự quan trọng trong tin này là cấu trúc hơn là con số
Nếu chỉ nhìn bài báo, thứ đập vào mắt đầu tiên là những con số rất lớn như 35lần, 38lần. Nhưng để hiểu đúng tin này, trước tiên cần nhìn vào việc một buổi diễn đã kéo dài cả chuyến đi và làm chi tiêu lan rộng như thế nào, hơn là chỉ nghĩ ‘BTS giỏi đến mức nào’.
Theo phân tích của chính phủ, khán giả nước ngoài đến xem buổi diễn BTS ở lại trung bình 8.7일 và chi 3.53M KRW. Con số này cao hơn nhiều so với mức trung bình 6.1일, 2.45M KRW của khách du lịch nước ngoài đến Hàn Quốc thông thường. Điều đó có nghĩa là buổi diễn không kết thúc chỉ với một tấm vé, mà đã hoạt động như du lịch lưu trú gắn thêm cả chỗ ở, giao thông, ăn uống và tham quan xung quanh.
Nếu hiểu cấu trúc này, bạn sẽ đọc những tin sau dễ hơn nhiều. Sau này, khi có tin kiểu như ‘buổi diễn của ca sĩ nào đó làm cả thành phố sôi động’, bạn sẽ phân biệt được đó chỉ là chủ đề fandom đơn giản hay thật sự là một sự kiện làm chuyển động kinh tế địa phương và chiến lược du lịch.
Điểm chính là số ngày lưu trú tăng hơn là doanh thu bán vé.
Khi thời gian lưu trú dài hơn, chi tiêu cho chỗ ở, giao thông và ăn uống sẽ tăng liên tiếp.
Vì vậy, tin này không chỉ là tin giải trí mà cũng phải đọc như tin về ngành du lịch.

Khán giả xem buổi diễn BTS khác khách du lịch thông thường ở điểm nào
| Hạng mục | Khách nước ngoài xem buổi diễn BTS | Khách du lịch nước ngoài thông thường |
|---|---|---|
| Số ngày lưu trú trung bình | 8.7일 | 6.1일 |
| Chi tiêu mỗi người | 3.53M KRW | 2.45M KRW |
| Chênh lệch | Dài hơn 2.6 ngày | Lớn hơn 1.08M KRW |

Nơi người hâm mộ thực sự tiêu nhiều tiền là chỗ ở và giao thông
Nhìn các con số này thì dễ hiểu trung tâm của mức tăng tiêu dùng là ở đâu. Điểm quan trọng là chi phí ở lại và di chuyển đã tăng lên trước cả mua sắm.

Du lịch thường và du lịch của người hâm mộ BTS khác nhau ngay từ cách lên kế hoạch chuyến đi
| Mục so sánh | Du lịch nước ngoài thông thường | Du lịch của người hâm mộ BTS |
|---|---|---|
| Điểm bắt đầu của chuyến đi | Nhiều lý do trộn lẫn như mua sắm, đồ ăn, ngắm thành phố | Xem biểu diễn trở thành lý do chính của chuyến đi |
| Cấu trúc lưu trú | Sau khi đến thì đi quanh các điểm du lịch chính | Xuất hiện cấu trúc ở thêm vài ngày theo lịch trước và sau buổi biểu diễn |
| Hạng mục chi tiêu lớn | Tỷ trọng mua sắm tương đối lớn | Chỗ ở và giao thông tăng trước, rồi đồ ăn thức uống và mua sắm tăng theo |
| Cách tiêu dùng lan tỏa | Phân tán rộng ở các khu thương mại nổi tiếng trong trung tâm thành phố | Tập trung mạnh hơn vào khu vực quanh địa điểm biểu diễn và các nơi liên quan đến người hâm mộ |
| Mở rộng du lịch | Chi tiêu trong lịch trình đã lên kế hoạch | Dễ có thêm lịch trình phụ như ghé cửa hàng pop-up, triển lãm, địa điểm quay phim |

Chính phủ tính hiệu quả kinh tế của buổi biểu diễn theo cách chia nhỏ như thế này
Những con số như ‘35 lần số khách đến’ không phải chỉ đoán rồi làm ra đâu. Nhưng cũng không phải một dữ liệu là có thể nói hết mọi thứ, nên cần đọc chồng nhiều mảnh dữ liệu lại với nhau.
Bước 1: Trước tiên chọn địa điểm biểu diễn và thời gian
Họ xác định phạm vi là xem buổi biểu diễn nào, ở khu vực nào, trong thời gian nào. Nếu đường chuẩn này thay đổi thì cách hiểu các con số phía sau cũng sẽ khác.
Bước 2: Dùng dữ liệu viễn thông để xem ai đã đến và đến bao nhiêu
Dữ liệu viễn thông mạnh ở việc xác định quy mô khách đến, thời gian ở lại, thời điểm ghé thăm dựa trên thông tin vị trí điện thoại di động. Nói đơn giản thì nó gần giống ‘bản đồ dòng người’.
3 bước: Xem đã chi ở đâu và bao nhiêu bằng dữ liệu thẻ
Dữ liệu thẻ cho thấy ngành chi tiêu và mức thay đổi số tiền thanh toán. Vì vậy có thể đọc được chỗ nào tăng mạnh trong lưu trú, ăn uống và bán lẻ.
4 bước: Xác nhận đặc điểm thật của khán giả bằng vé và khảo sát tại chỗ
Chỉ với dữ liệu vị trí thì khó biết hoàn toàn là họ đến để xem biểu diễn hay chỉ tình cờ ở gần đó. Vì vậy thông tin vé và khảo sát có vai trò xác nhận mục đích xem biểu diễn.
5 bước: Tính xem đã tăng bao nhiêu so với bình thường
Đây là chỗ xuất hiện các tỷ lệ tăng như ‘35 lần’, ‘38 lần’. Thường là cách xem nó tăng vọt bao nhiêu so với lúc bình thường của cùng địa điểm hoặc khoảng thời gian tương tự.
6 bước: Cuối cùng cẩn thận khi giải thích phạm vi của con số
Những gì dữ liệu này trực tiếp cho thấy chủ yếu là mức tăng lượt ghé thăm và mức tăng thanh toán. Nếu muốn nói xa hơn đến cả hiệu quả kinh tế của toàn khu vực, thì cần thêm mô hình kinh tế riêng.

Những điều nên kiểm tra cùng khi nhìn các con số như ‘35 lần’
| Điểm cần kiểm tra | Vì sao quan trọng | Cách đọc trong tin này |
|---|---|---|
| Đường chuẩn so sánh | Nếu là nơi nhu cầu bình thường rất thấp thì số lần tăng có thể vọt lên cao | 35 lần nên được hiểu là ‘tăng mạnh so với bình thường’ hơn là quy mô tuyệt đối |
| Phạm vi không gian | Con số sẽ khác tùy theo là chỉ xem ngay cạnh địa điểm biểu diễn hay xem cả thành phố | Trường hợp Goyang cần được hiểu là con số cho thấy hiệu quả đặc biệt mạnh ở khu gần địa điểm biểu diễn |
| Phạm vi dữ liệu | Nếu là dữ liệu của một công ty thẻ cụ thể, thì tiền mặt và việc dùng thẻ khác có thể bị thiếu | Con số chi tiêu bằng thẻ có thể chỉ là một phần mẫu của tổng chi tiêu thực tế |
| Hiệu quả trực tiếp vs hiệu quả lan tỏa | Việc tăng thanh toán tại chỗ và hiệu quả kinh tế của cả thành phố là hai khái niệm khác nhau | Với các con số lần này, an toàn nhất là xem chủ yếu là chi tiêu trực tiếp và thay đổi tiêu dùng tại chỗ |
| Xác nhận mục đích xem | Không phải tất cả người qua lại gần đó đều là khán giả biểu diễn | Vì vậy, không chỉ xem dữ liệu viễn thông mà còn xem cùng khảo sát và thông tin vé |

Vì sao biểu diễn K-pop bây giờ đã trở thành chiến lược du lịch quốc gia
Bây giờ người ta nói biểu diễn dẫn dắt du lịch, nhưng không phải từ đầu đã như vậy. Nếu nhìn dòng chảy theo thời gian, sẽ thấy chính sách du lịch Hàn Quốc đã thay đổi ở đâu.
Giai đoạn 1: Địa điểm quay phim truyền hình và mua sắm là điểm khởi đầu của du lịch Hàn lưu
Cuối thập niên 1990 đến đầu những năm 2000, du lịch Hàn lưu gần với phim trường, diễn viên, mua sắm và trải nghiệm ẩm thực hơn. Nói cách khác, trọng tâm là ghé thăm bối cảnh nội dung hơn là biểu diễn.
Giai đoạn 2: Khi K-pop phát triển, biểu diễn trở thành ứng viên của sản phẩm du lịch
Từ cuối những năm 2000, âm nhạc dễ được tiêu dùng lặp lại hơn phim truyền hình, và sức gắn kết của fandom cũng mạnh hơn. Vì vậy, chính phủ cũng bắt đầu xem biểu diễn là nguồn lực du lịch bền vững hơn.
Giai đoạn 3: Đầu những năm 2010, du lịch biểu diễn bắt đầu xuất hiện rõ ràng trong tài liệu chính sách
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan nghiên cứu khi thiết kế chiến lược dài hạn cho du lịch Hàn lưu vào khoảng 2010~2012 đã bắt đầu nhìn K-pop, biểu diễn và hoạt động fan gắn với động cơ thật sự đến thăm Hàn Quốc.
Giai đoạn 4: Nó cũng bắt đầu được dùng như biện pháp ứng phó khủng hoảng
Trong chiến lược phục hồi du lịch sau MERS năm 2015, các buổi biểu diễn và lễ hội K-pop cũng được tận dụng. Đến lúc này, biểu diễn không chỉ là sự kiện văn hóa đơn giản mà còn được công nhận là công cụ phục hồi du lịch.
Giai đoạn 5: Sau BTS, bản thân biểu diễn đã trở thành lý do đến Hàn Quốc
Thay đổi quyết định nằm ở đây. Bây giờ không còn là “đến Hàn Quốc rồi xem gì nhỉ”, mà là đã hình thành kiểu đến Hàn Quốc để xem buổi biểu diễn đó.
Giai đoạn 6: Đến thập niên 2020, nó phát triển thành chiến lược gắn biểu diễn với tiêu dùng lưu trú dài ngày
Chính sách gần đây không nhìn riêng K-pop nữa, mà đang mở rộng thành thiết kế du lịch khiến du khách ở lại lâu hơn bằng cách kết nối với ẩm thực, làm đẹp, trải nghiệm địa phương và mua sắm.

Du lịch Hàn lưu đã chuyển từ du lịch phim truyền hình sang ngành công nghiệp di chuyển fandom
| Phân loại | Du lịch Hàn lưu thế hệ 1 | Mở rộng K-pop thế hệ 2 | Du lịch fandom hiện nay |
|---|---|---|---|
| Động cơ chính | Địa điểm quay phim, diễn viên, mua sắm | Xem concert·festival | Biểu diễn + pop-up + thăm địa điểm nổi tiếng của fan + trải nghiệm địa phương |
| Cách di chuyển | Có nhiều trường hợp vào gián tiếp | Tăng di chuyển có mục đích theo lịch biểu diễn cụ thể | Fan toàn thế giới di chuyển quy mô lớn theo kiểu di chuyển theo sự kiện |
| Cơ cấu chi tiêu | Tập trung vào mua sắm | Tăng tỷ trọng vé biểu diễn và lưu trú | Lưu trú·giao thông·ăn uống·goods·du lịch được gộp cùng nhau |
| Góc nhìn chính sách | Tài nguyên du lịch mang tính quảng bá | Đối tượng phát triển sản phẩm biểu diễn | Nguồn lực cốt lõi của chiến lược du lịch quốc gia |
| Cơ cấu quay lại | Tập trung vào du lịch cá nhân | Quay lại nhiều lần theo sự kiện của fan | Khả năng quay lại thường xuyên khi hoạt động fandom kết hợp với trải nghiệm địa phương |

Lợi ích từ đợt sôi động của biểu diễn không đến giống nhau với mọi người
| Chủ thể | Lý do có lợi | Giới hạn hoặc điểm cần chú ý |
|---|---|---|
| Khách sạn lớn | Có thể nhận nhiều đặt phòng của người nước ngoài và cũng dễ điều chỉnh giá | Khi nhu cầu đổ dồn, rất dễ có tranh cãi về giá tăng vọt |
| Đồ ăn thức uống và bán lẻ nhượng quyền | Giờ mở cửa dài, hệ thống thanh toán tốt, độ nhận biết thương hiệu mạnh | Dù hưởng lợi lớn, vẫn có thể lấn phần của khu buôn bán địa phương riêng |
| Cơ sở thương mại bên trong địa điểm biểu diễn | Nằm trong lối di chuyển của khán giả nên dễ hút tiêu dùng ngay lập tức | Chi tiêu có thể lan ra khu buôn bán bên ngoài địa điểm biểu diễn ít hơn |
| Hộ kinh doanh tự doanh trong khu phố | Nếu lối đi bộ kết nối tốt và có chỗ ở lại thì có thể được hưởng lợi | Nếu xa địa điểm biểu diễn hoặc ít được biết thông tin thì hiệu quả cảm nhận có thể nhỏ |
| Toàn thành phố | Nếu tổ chức lặp lại và tích lũy thương hiệu, có thể kỳ vọng hiệu quả quay lại thăm | Nếu chỉ kết thúc bằng sức nóng đặc biệt trong một ngày thì hiệu quả thương hiệu dài hạn có thể yếu |

Đây có phải chỉ là ngoại lệ của BTS, hay là công thức của cả ngành K-pop
| Mục so sánh | BTS | Các nghệ sĩ K-pop toàn cầu khác |
|---|---|---|
| Sức hút du lịch | Thường được nhắc đến như trường hợp fandom siêu lớn khi lý do đến Hàn chính là buổi biểu diễn | SEVENTEEN vân vân cũng có tỷ lệ khán giả nước ngoài cao, nên đã xác nhận được cơ chế hút du lịch |
| Quy mô di chuyển của fan | Fandom toàn thế giới di chuyển cùng lúc với quy mô lớn | Quy mô nhỏ hơn nhưng cấu trúc ghé thăm có mục đích xuất hiện khá giống |
| Sự kiện liên kết với thành phố | Ngoài buổi biểu diễn, còn dễ mở rộng sang pop-up, triển lãm, và tiêu dùng tại địa điểm mang tính biểu tượng | Nếu thiết kế tốt chương trình liên kết thì có thể tạo ra cấu trúc tương tự |
| Khả năng tái hiện | Rất khó sao chép nguyên xi những con số cùng cấp đó | Nếu có hạ tầng nhà hát biểu diễn, lưu trú và giao thông hỗ trợ, có thể mở rộng thành công thức ngành công nghiệp |
| Ý nghĩa chính sách | Mô hình dẫn đầu đã chứng minh khả năng qua trường hợp siêu lớn | Trong tương lai, đây là lĩnh vực mà chính sách du lịch K-pop nhắm tới tiêu chuẩn hóa sau BTS |

Vậy nên nên đọc tin này như thế nào
Nếu chỉ đọc tin này theo kiểu ‘vì là BTS nên con số rất lớn’ thì bạn mới hiểu một nửa thôi. Điều quan trọng hơn là bây giờ Hàn Quốc đang muốn có một mô hình du lịch biến chính buổi biểu diễn thành lý do nhập cảnh, rồi sau đó được thiết kế để nối tiếp sang lưu trú, giao thông, ăn uống và tiêu dùng ở địa phương.
Nói cách khác, khi sau này bạn thấy bài báo giống như vậy, chỉ cần kiểm tra trước 3 điều thôi. Thứ nhất, mọi người ở lại lâu hơn bao nhiêu. Thứ hai, tiền đã chảy vào ngành nào. Thứ ba, hiệu quả đó kết thúc trong nhà hát biểu diễn hay đã mở rộng thành trải nghiệm của cả thành phố. Nhìn 3 điều này, bạn có thể phân biệt bài báo gây chú ý với thay đổi trong cấu trúc ngành công nghiệp.
Nếu hiểu đến đây, chắc bạn sẽ cảm nhận được vì sao tin này có ý nghĩa lớn hơn một bài báo giải trí đơn giản. Buổi biểu diễn của BTS là một ví dụ, nhưng phía sau đó là xu hướng du lịch Hàn Quốc muốn đổi làn sóng Hallyu từ tiêu dùng kiểu ghé thăm ngắn ngày sang ngành công nghiệp trải nghiệm lưu trú. Lần sau, thay vì nhìn con số trước, bạn chỉ cần nhìn cấu trúc đó trước là được.
Số ngày lưu trú có tăng không
Tiêu dùng có mở rộng sang lưu trú·giao thông·ăn uống không
Hiệu quả có nối tiếp thành trải nghiệm thành phố bên ngoài nhà hát biểu diễn không
Chúng tôi sẽ chỉ cho bạn cách sống ở Hàn Quốc
Xin hãy yêu mến gltr life thật nhiều




